Trong bối cảnh hiện nay, khi mà tiền Việt đang có xu hướng mất giá so với đô la Mỹ (USD) và dự trữ ngoại hối của quốc gia còn mỏng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang phải cân nhắc kỹ lưỡng về quota nhập khẩu vàng. Tuy nhiên, xét về mặt lâu dài, nhập khẩu vàng được xem là một giải pháp có lợi cho nền kinh tế. Việc nhập khẩu vàng không chỉ giúp ổn định thị trường vàng mà còn giảm áp lực lên tỷ giá và tăng nguồn cung cho thị trường.
TS. Nguyễn Trí Hiếu, một chuyên gia kinh tế, đánh giá cao quyết định bỏ độc quyền sản xuất vàng miếng và nhập khẩu vàng, cho rằng đây là một bước đi hoàn toàn đúng đắn. Theo ông, việc tăng nguồn cung cho thị trường vàng sẽ giúp giảm áp lực lên tỷ giá và ổn định thị trường. Ông Hiếu cũng nhấn mạnh rằng việc xác định hạn mức nhập khẩu vàng cần phải dựa vào nhiều yếu tố, bao gồm cả dự trữ ngoại hối quốc gia và biến động tỷ giá trong nước.
Với dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện chỉ khoảng 80 tỷ USD, xấp xỉ 3 tháng nhập khẩu trung bình, việc nhập khẩu vàng sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới tỷ giá trong nước. Ông Hiếu cho rằng, mặc dù cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, nhưng không vì lo ngại tỷ giá mà cấm nhập khẩu vàng. Chính sách tiền tệ không thể đáp ứng mọi mục tiêu của nền kinh tế, và vai trò của NHNN là phải tìm ra điểm cân bằng.
Về vấn đề cho phép ngân hàng thương mại tham gia sản xuất vàng miếng, ông Hiếu không cho rằng điều này nên xảy ra. Theo ông, các ngân hàng thương mại có thể tham gia vào nhập khẩu vàng, phân phối vàng, lưu trữ vàng cho khách hàng, nhưng không nên tham gia vào sản xuất vàng miếng.
Đối với việc thành lập sàn vàng, ông Hiếu cho rằng nếu điều này xảy ra, Việt Nam nên lập sàn giao dịch hàng hóa và có thể tham khảo mô hình Sàn Giao dịch vàng Chicago Mercantile Exchange (COMEX).
Sửa đổi Nghị định 24 được kỳ vọng sẽ “cởi trói” cho thị trường vàng, cung cấp nguồn cung dồi dào hơn cho thị trường. Tuy nhiên, cơ quan chức năng cũng cần ban hành nhiều quy định về minh bạch giao dịch vàng, từ đó giảm bớt các nhu cầu vàng liên quan đến rửa tiền, khiến cầu vàng trở nên thực chất hơn.